Tới nội dung chính
Tính Ngay

Tính thể tích gỗ cây đứng

Cây chưa hạ thì chỉ đo được đoạn ngang ngực. Nhập đường kính hoặc vanh tại 1,3 m, chiều cao vút ngọn và hình số để biết mỗi cây bao nhiêu khối và cả lô bao nhiêu tấn.

Cách đo thân cây
Đo bằng thước kẹp, ngang qua tâm thân.
Loại rừng
Keo, bạch đàn, thông trồng — hình số 0,5.

Tổng thể tích

0,283 m³

Mỗi cây 0,283 m³ Tiết diện ngang 0,0314 m² Gỗ tươi khoảng 0,24 tấn

Công thức

V = G × H × F G = π × (D₁,₃ ÷ 2)²

G là tiết diện ngang thân tại độ cao 1,3 m tính bằng m², H là chiều cao vút ngọn tính bằng m, F là hình số. Hình số nói thân cây thon hơn khối trụ bao nhiêu: 0,5 cho rừng trồng0,45 cho rừng tự nhiên, theo hướng dẫn điều tra rừng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Ví dụ

Cây keo đo được đường kính 20 cm tại 1,3 m, cao 18 m, rừng trồng nên hình số 0,5. Tiết diện G = 3,1416 × 0,1² = 0,0314 m², nên V = 0,0314 × 18 × 0,5 = 0,283 m³.

Ca dễ nhầm: cùng cây ấy nếu là rừng tự nhiên thì hình số 0,45, thể tích còn 0,254 m³ — lệch 10% chỉ vì một con số. Còn lấy thẳng công thức khối trụ sẽ ra 0,565 m³, dư gấp đôi.

Hình số không phải hằng số

0,5 và 0,45 là số làm tròn cho điều tra nhanh. Hình số thật đổi theo loài, theo tuổi cây, theo mật độ trồng và cách tỉa cành — nghiên cứu của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam dùng hình số riêng cho từng loài thay vì một con số chung. Vì thế ô hình số trong công cụ sửa được: ai có biểu thể tích riêng cho lô rừng của mình thì nhập thẳng số đó vào.

Chiều cao vút ngọn cũng là chỗ dễ sai hơn đường kính. Ước bằng mắt thường lệch vài mét, mà thể tích tỉ lệ thẳng với chiều cao: cao hơn 10% là thể tích hơn 10%.

Công cụ liên quan

Câu hỏi thường gặp

Cách tính khối lượng gỗ cây đứng?

Lấy tiết diện ngang thân tại 1,3 m nhân chiều cao vút ngọn rồi nhân hình số: V = G × H × F. Cây keo đường kính 20 cm cao 18 m được 0,283 m³. Hình số có mặt vì thân cây thon dần lên ngọn chứ không thẳng đuột như khối trụ.

Đo đường kính ở chỗ nào trên thân?

Ở độ cao 1,3 m tính từ mặt đất, gọi là đường kính ngang ngực hay D1.3. Đây là mốc quy ước của ngành lâm nghiệp, có trong TCVN 12509-1:2018. Đo thấp hơn thì vướng phần bạnh gốc phình to, đo cao hơn thì với không tới.

Hình số lấy 0,45 hay 0,5?

Tuỳ loại rừng chứ không tuỳ loài cây. Hướng dẫn điều tra rừng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lấy 0,5 cho rừng trồng, tức keo, bạch đàn, thông trồng thành rừng sản xuất, và 0,45 cho rừng tự nhiên. Hai con số không mâu thuẫn, chúng dành cho hai đối tượng khác nhau.

Vì sao không lấy thẳng công thức hình trụ?

Vì sẽ tính dư gần gấp đôi. Cây keo 20 cm cao 18 m coi như khối trụ được 0,565 m³, trong khi thể tích thật chỉ khoảng 0,283 m³. Thân cây nhỏ dần lên ngọn, và hình số chính là phần bù cho chỗ chênh đó.

Đo vanh thì tính thế nào?

Chia chu vi cho 3,1416 để ra đường kính. Vanh 63 cm tại 1,3 m tương ứng đường kính 20 cm. Ngoài rừng người ta hay đo vanh vì chỉ cần một cuộn thước dây, còn thước kẹp đo đường kính thì cồng kềnh hơn.

Cả lô rừng thì tính ra bao nhiêu?

Nhân thể tích một cây với số cây cùng cỡ. Lô 1.200 cây keo như trên cho 339,3 m³, tương đương khoảng 285 tấn gỗ tươi. Lô có nhiều cỡ cây khác nhau thì chia thành từng nhóm rồi cộng lại, đừng lấy một cây trung bình rồi nhân cho cả lô.

Bán theo mét khối hay theo tấn?

Cả hai đều gặp. Keo non bán cho nhà máy dăm giấy thường cân theo tấn tươi, còn keo lớn tuổi hơn để xẻ thì tính theo mét khối. Công thức lâm nghiệp cho ra mét khối, nên số tấn ở đây là ước tính từ khối lượng riêng gỗ tươi — tham khảo để ước giá, đừng dùng thay phiếu cân.