Tính khối lượng đào đất
Nhập kích thước đáy, chiều sâu và hệ số mái dốc để biết phải đào bao nhiêu khối đất, nặng bao nhiêu tấn và chở đi mất bao nhiêu m³ sau khi tơi. Tính được cả hố móng vát bốn mặt lẫn rãnh, mương chạy dài.
40,67 m³
Nhập kích thước đáy và chiều sâu lớn hơn 0 để xem kết quả.
- Miệng
- 6,00 × 5,00 m
- Đáy
- 4,00 × 3,00 m
- Chiều sâu
- 2,00 m
Hố là khối chóp cụt chứ không phải khối hộp. Lấy trung bình diện tích đáy và miệng rồi nhân chiều sâu sẽ tính dư, vì bỏ qua phần bị cắt ở bốn góc.
Taluy là gì
Taluy — từ tiếng Pháp talus — là mặt đất được vạt nghiêng của một hố đào hay một nền đắp. Đào thẳng đứng thì đất hai bên dễ sạt xuống, nên thành hố phải vát ra; mặt vát đó là mái taluy.
Hệ số mái dốc m là tỷ lệ giữa bề ngang loe ra và chiều sâu. TCVN 4447:2012 viết dưới dạng 1:m — cứ sâu 1 m thì mỗi bên loe thêm m mét. Mái taluy 1:1,5 nghĩa là m = 1,5: hố sâu 2 m thì mỗi bên loe 3 m, miệng hố rộng hơn đáy 6 m. Số càng lớn thì mái càng thoải và càng phải đào nhiều đất.
Taluy dương
Mái dốc đi lên so với mặt đường hay mặt nền — phía sườn núi. Đây là mái của phần đất bị đào bỏ đi.
Taluy âm
Mái dốc đi xuống so với mặt đường — phía vực. Đây là mái của phần đất đắp thêm để tạo nền.
Hố móng nhà ở chỉ có mái đào, nên công cụ trên trang này tính cho trường hợp đó. Nền đường đèo thì có cả hai mái và phải tính riêng từng bên.
Công thức
Hố móng: V = h/6 × [a·b + (a + a')·(b + b') + a'·b']
Rãnh dài: V = L · h · (b + m·h)
a, b là kích thước đáy, a', b' là kích thước miệng hố, h là chiều sâu, m là hệ số mái dốc taluy và L là chiều dài tuyến rãnh.
Tra hệ số taluy theo loại đất
Số trong bảng là m — điền thẳng vào ô hệ số mái dốc ở trên. TCVN 4447:2012 ghi dưới dạng 1:m, nên "1:0,50" chính là m = 0,5.
| Loại đất | Sâu 1,5 m | Sâu 3,0 m | Sâu 5,0 m |
|---|---|---|---|
| Đất mượn | 0,67 | 1,00 | 1,25 |
| Đất cát và cát cuội ẩm | 0,50 | 1,00 | 1,00 |
| Đất cát pha | 0,25 | 0,67 | 0,85 |
| Đất thịt | 0,00 | 0,50 | 0,75 |
| Đất sét | 0,00 | 0,25 | 0,50 |
| Hoàng thổ và đất tương tự, trạng thái khô | 0,00 | 0,50 | 0,50 |
Mức dốc lớn nhất được phép khi không gia cố, cho đất nằm trên mực nước ngầm hoặc dưới mực nước ngầm nhưng có hệ thống hạ nước. m = 0,00 là đất đứng vách được ở chiều sâu ấy. Sâu quá 5 m phải tính theo thiết kế riêng.
Ví dụ
Hố móng. Đáy 4 × 3 m, sâu 2 m, taluy 0,5. Miệng loe thành a' = 4 + 2 × 0,5 × 2 = 6 m và b' = 3 + 2 × 0,5 × 2 = 5 m. V = 2 ÷ 6 × [4 × 3 + (4 + 6) × (3 + 5) + 6 × 5] = 40,67 m³. Đất thịt 1.800 kg/m³ nên nặng 73 tấn. Nhân hệ số nở rời 1,25 ra 50,83 m³ phải chở đi — đây mới là số để tính chuyến xe.
Rãnh cáp. Tuyến dài 30 m, đáy rộng 0,8 m, sâu 1,2 m, taluy 0,25. Mặt cắt là hình thang không đổi: V = 30 × 1,2 × (0,8 + 0,25 × 1,2) = 39,60 m³, miệng rãnh rộng 1,40 m.
Nguồn tham chiếu
- TCVN 4447:2012 — Công tác đất. Thi công và nghiệm thu (mở tab mới) — Bộ Khoa học và Công nghệ, Bảng 11 (điều 4.2.9) Bảng tra độ dốc lớn nhất cho phép của mái dốc hào và hố móng khi không cần gia cố.
Tính Ngay không liên kết với các tổ chức nêu trên. Link dẫn tới tài liệu gốc để bạn tự đối chiếu con số công cụ đang dùng.
Công cụ liên quan
Câu hỏi thường gặp
Taluy là gì?
Taluy, từ tiếng Pháp talus, là mặt đất được vạt nghiêng của một hố đào hoặc một nền đắp. Thành hố đào thẳng đứng dễ sạt nên phải vát ra, và mặt vát đó gọi là mái taluy. Độ vát được đo bằng hệ số mái dốc m: cứ sâu 1 m thì mỗi bên loe thêm m mét.
Mái taluy 1:1,5 nghĩa là gì?
Nghĩa là hệ số mái dốc m = 1,5 — cứ sâu 1 m thì mỗi bên loe ra 1,5 m. Hố sâu 2 m sẽ có mỗi bên loe 3 m, miệng hố rộng hơn đáy 6 m. Trong công cụ trên trang này, điền 1,5 vào ô hệ số mái dốc taluy.
Taluy âm và taluy dương khác nhau thế nào?
Taluy dương là mái dốc đi lên so với mặt đường, tức phía sườn núi — mái của phần đất bị đào bỏ. Taluy âm là mái dốc đi xuống so với mặt đường, tức phía vực — mái của phần đất đắp thêm để tạo nền. Hố móng nhà ở chỉ có mái đào; nền đường đèo có cả hai và phải tính riêng từng bên.
Hệ số taluy chọn bao nhiêu?
TCVN 4447:2012 cho sẵn mức dốc lớn nhất được phép khi không gia cố, theo loại đất và chiều sâu — xem bảng tra trên trang này. Đất sét chặt giữ được mái đứng hơn đất cát rời, càng đào sâu mái càng phải thoải. Đó là giới hạn trên chứ không phải con số thiết kế.
Đào rãnh, mương dài thì tính khác hố móng thế nào?
Rãnh chỉ vát hai thành dọc tuyến, hai đầu đứng thẳng vì nối tiếp đoạn kế. Mặt cắt ngang là hình thang không đổi, nên thể tích bằng diện tích mặt cắt nhân chiều dài tuyến. Cùng kích thước, cùng taluy thì rãnh luôn ra ít đất hơn hố móng.
Vì sao thể tích đất chở đi lớn hơn thể tích hố?
Đất nguyên thổ vốn bị nén chặt. Đào lên thì các hạt tơi ra, giữa chúng có khoảng trống, nên cùng lượng đất đó chiếm nhiều chỗ hơn — thường 20 đến 30%. Số chuyến xe phải tính theo thể tích tơi, không phải thể tích hố.
Vì sao không lấy trung bình hai đáy cho nhanh?
Vì cách đó tính dư. Hố 4 × 3 m sâu 2 m taluy 0,5: lấy trung bình cho 42 m³, còn công thức chóp cụt cho 40,67 m³ — chênh hơn 3%.