Tới nội dung chính
Tính Ngay
3 Li 7

Nguyên tố số 3 · Kim loại kiềm · Rắn ở 25 °C
Chu kỳ 2 · Nhóm 1 · Khối s

Liti: kim loại nhẹ nhất và vì sao cả thế giới tranh nhau mua

Điện thoại chạy bằng liti, xe điện ngoài đường cũng vậy. Gần 90% lượng liti khai thác trên thế giới đi thẳng vào pin, mà chuyện đó chỉ mới xảy ra vài chục năm gần đây.

6 phút đọc

Ba hình nối nhau: một khối đá chứa tinh thể sáng, một nguyên tử liti hai lớp electron, và một viên pin có biểu tượng tia sét.
Quặng liti trong đá, nguyên tử liti với ba electron, và viên pin.

Liti nhẹ nhất trong các kim loại. Nhẹ tới mức một khối liti thả vào chậu nước sẽ nổi lên, trước khi kịp phản ứng và sủi bọt.

Liti cũng là kim loại đầu tiên trong bảng tuần hoàn, đứng ngay sau hai chất khí hydroheli.

Vì sao lại là liti chứ không phải kim loại khác?

Nguyên tử liti có ba electron, trong đó hai electron nằm ở lớp trong đã đầy và một electron nằm một mình ở lớp ngoài. Liti đem cho đi đúng electron này.

Nguyên tử liti: hạt nhân bảy hạt ở giữa, lớp quỹ đạo trong có hai electron, lớp ngoài chỉ có một.
Ba proton và bốn neutron: đây là liti-7, đồng vị phổ biến nhất trong tự nhiên.

Trong dung dịch, liti nhường electron mạnh hơn mọi kim loại khác, và pin liti-ion tận dụng đúng điều đó.

Biết thêm: vì sao liti nhường electron mạnh nhất

Thế điện cực chuẩn của liti là −3,04 V, âm nhất bảng tuần hoàn. Con số đó nghe ngược với thẻ dữ liệu cuối bài, nơi ghi năng lượng ion hoá của liti cao hơn natri và kali. Kéo một electron ra khỏi nguyên tử liti đơn độc thật ra còn khó hơn. Liti mạnh ở chỗ ion Li⁺ quá nhỏ nên bám các phân tử nước quanh mình rất chặt, và trong pin thì điều đó mới quyết định.

Ion liti là nguyên tử liti đã cho đi một electron. Pin liti-ion hoạt động bằng cách cho ion liti chạy qua lại giữa hai điện cực (hai đầu pin). Lúc xả, các ion này đẩy electron chạy vòng ngoài qua thiết bị, còn lúc sạc thì dòng điện đẩy các ion quay ngược lại.

Hai cell pin liti-ion hình trụ màu xanh lam nhạt, một cell lớn và một cell nhỏ hơn, đặt trên giá đỡ nhựa vàng.
Hai cỡ cell liti-ion hình trụ phổ biến nhất: 21700 dùng trong xe điện, và 18650 dùng trong laptop hay đèn pin. Hình ảnh lấy từ Wikimedia Commons — Sevenethics · CC0

Ý tưởng này mất gần 20 năm mới thành sản phẩm bán được. Nobel Hoá học 2019 vinh danh ba người đã làm ra pin liti-ion là Whittingham, Goodenough và Yoshino.

Liti nhẹ tới mức nổi trên dầu hoả

Natri và kali cùng nhóm với liti nhưng nặng hơn, nên được cất trong dầu hoả để tránh không khí ẩm. Riêng liti thì không cất kiểu đó được, vì liti nhẹ hơn cả dầu hoả nên cứ nổi lên trên mặt và vẫn gặp không khí.

Vài mẩu kim loại liti màu xám bạc, bề mặt xỉn, ngâm trong chất lỏng trong suốt.
Liti kim loại phải giữ trong dầu khoáng đặc hoặc khí trơ, vì để ngoài không khí thì mặt cắt sáng bóng xỉn đi chỉ trong vài phút. Hình ảnh lấy từ Wikimedia Commons — James St. John · CC BY 2.0

Gặp nước, liti phản ứng tạo khí hydro và toả nhiệt, nhưng êm hơn hẳn natri và kali. Natri nóng chảy thành giọt chạy loạn trên mặt nước, còn liti chỉ sủi đều rồi tan dần.

Liti được đào lên bằng cách nào?

Có hai con đường khác hẳn nhau. Cách của Úc là đào mỏ đá cứng. Người ta lấy quặng spodumene lên, nghiền, nung rồi dùng hoá chất tách liti ra.

Mẫu khoáng vật spodumene dạng khối lăng trụ, màu xám ngả hồng, mặt vỡ có vân dọc.
Spodumene, quặng liti của các mỏ đá cứng. Hình ảnh lấy từ Wikimedia Commons — Andrew Silver, USGS · Phạm vi công cộng

Cách của Chile, Argentina và Bolivia chậm hơn nhưng rẻ hơn. Người ta bơm nước muối ngầm lên các ao nông giữa sa mạc. Nắng làm bay hơi và cô đặc dần suốt 12–18 tháng cho tới khi tách được liti. Vùng này vẫn được gọi là "tam giác liti".

Ảnh vệ tinh một vùng sa mạc trắng xám, trên đó có những ô chữ nhật lớn màu xanh lam và vàng lục xếp thành dải.
Salar de Atacama nhìn từ vệ tinh. Những ô chữ nhật là ao bốc hơi, mỗi ô một nồng độ, màu đậm dần theo thời gian phơi nắng. Hình ảnh lấy từ NASA Earth Observatory — Jesse Allen · CC BY 2.0

Năm 2025 thế giới khai thác khoảng 290 nghìn tấn liti, tăng hơn 30% chỉ trong một năm, từ mức 222 nghìn tấn của 2024.

Nước Đào năm 2025 Còn dưới đất
Úc 92.000 t 8,4 tr.t
Trung Quốc 62.000 t 4,6 tr.t
Chile 56.000 t 9,2 tr.t
Zimbabwe 28.000 t
Argentina 23.000 t 4,4 tr.t

Số liệu USGS 2025. Mỹ có khai thác liti nhưng giấu sản lượng vì lý do thương mại, chỉ công bố trữ lượng 4,4 triệu tấn. Zimbabwe chưa có số trữ lượng riêng.

Đào liti ở Atacama tốn bao nhiêu nước?

Cách bốc hơi nước muối nghe nhẹ nhàng, chỉ cần nắng và thời gian, nhưng lại diễn ra ở một trong những nơi khô hạn nhất Trái Đất.

Các nghiên cứu ước tính mỗi tấn liti carbonat đủ sạch để làm pin ở Atacama làm bốc hơi khoảng 500.000 lít nước muối. Cộng đồng Atacameño quanh hồ muối lo mực nước ngầm sụt, kéo theo các đầm nhỏ và thảm thực vật họ dựa vào để chăn nuôi.

Đến nay vẫn chưa rõ khai thác liti hay khí hậu khô hạn gây thiệt hại nhiều hơn. Nhưng dù sao đây cũng là một phần chi phí của mỗi viên pin mà người mua không nhìn thấy.

Pin cũ đi đâu?

Con số "chỉ 5% pin liti được tái chế" xuất hiện khắp nơi, và đó là một cách hiểu sai. Con số này đến từ một thông cáo năm 2011. Người ta đem lượng pin thu gom trong một năm chia cho lượng pin bán ra suốt ba năm trước đó, hai con số không so được với nhau.

Ước tính gần đây hơn cho thấy khoảng 59% pin liti-ion đã tới lúc tái chế thực sự được đưa đi tái chế. Chính nhóm nghiên cứu thừa nhận không lần được 41% còn lại đi đâu.

Chỗ vướng thật là tái chế pin không có nghĩa là lấy lại được liti. Cách phổ biến nhất là nung chảy để lấy cobalt và niken, hai kim loại đắt hơn nhiều, còn liti thì phần lớn theo xỉ thải ra ngoài. Muốn lấy lại liti phải thêm một bước hoá học nữa, mà nhiều nhà máy chưa thấy đủ lời để đầu tư.

Pin hỏng cũng cần đi đúng chỗ vì một lý do khác. Pin liti-ion bị móp, bị thủng hay sạc sai có thể tự nóng lên mất kiểm soát rồi bốc cháy. Vì vậy hàng không Mỹ cấm bỏ pin liti rời vào hành lý ký gửi.

Liti còn là thuốc chữa rối loạn lưỡng cực

Liti còn được dùng làm thuốc. Từ năm 1949, muối liti là thuốc ổn định khí sắc cho người rối loạn lưỡng cực, nghĩa là giữ tâm trạng không lên xuống thất thường. Đến nay muối liti vẫn thuộc nhóm thuốc hiệu quả nhất cho bệnh này.

Đến giờ vẫn chưa ai giải thích được đầy đủ vì sao muối liti có tác dụng. Khoảng an toàn của thuốc lại rất hẹp. Liều chữa bệnh và liều gây ngộ độc sát nhau tới mức người bệnh phải xét nghiệm máu định kỳ.

Vì sao vũ trụ thiếu liti hơn dự đoán?

Cùng với hydro và heli, liti là một trong ba nguyên tố sinh ra ngay sau Vụ Nổ Lớn. Lượng hydro và heli đo được trong các ngôi sao cổ khớp với lý thuyết. Nhưng liti-7 chỉ bằng một phần ba tới một phần tư con số dự đoán. Sau vài chục năm các nhà vật lý thiên văn vẫn chưa giải thích được vì sao lại thiếu.

5 điều cần nhớ về liti

  1. 1 Liti là kim loại nhẹ nhất, nổi được cả trên dầu hoả.
  2. 2 Liti nhường electron dễ hơn mọi kim loại khác, nên hợp làm pin.
  3. 3 Khoảng 88% liti thế giới đi vào pin. Úc đào nhiều nhất, Chile giữ nhiều nhất dưới đất.
  4. 4 Khai thác từ hồ muối tốn rất nhiều nước, giữa một trong những vùng khô hạn nhất Trái Đất.
  5. 5 Muối liti là thuốc ổn định khí sắc quan trọng, nhưng liều có tác dụng rất sát liều gây ngộ độc.
Thẻ dữ liệu
Z = 3 Li Liti Lithium
Số hiệu nguyên tử
3
Khối lượng nguyên tử
7 u
Nhóm · Chu kỳ
1 · 2
Khối
s
Cấu hình electron
[He] 2s¹
Trạng thái ở 25 °C
Rắn
Độ âm điện
0,98
Năng lượng ion hoá
520 kJ/mol
Nóng chảy
180,5 °C
Sôi
1.341,85 °C
Khối lượng riêng
0,534 g/cm³
Phát hiện
1817 · Johan August Arfwedson

Khối lượng nguyên tử theo CIAAW/IUPAC 2021; các giá trị còn lại từ PubChem (NCBI/NIH), ở điều kiện tiêu chuẩn trừ khi ghi khác. Sản lượng, trữ lượng và tỉ lệ liti dùng cho pin theo USGS, Mineral Commodity Summaries 2026. Nobel Hoá học 2019 theo nobelprize.org. Nước tiêu thụ ở Atacama theo các nghiên cứu vòng đời đăng trên ScienceDirect; tình hình cộng đồng Atacameño theo NRDC và Mongabay. Con số tái chế và nguồn gốc sai lệch của "5%" theo phân tích ngành của Hans Eric Melin. Khoảng điều trị và độc tính của liti theo NCBI StatPearls; quy định pin trên máy bay theo FAA. Bài toán liti vũ trụ theo Astronomy & Astrophysics. Nổi trên dầu hoả, nguồn gốc tên gọi, lịch sử phát hiện và phản ứng với nước theo Royal Society of Chemistry; thế điện cực chuẩn theo Nature Energy; hai cách khai thác và mốc bốc hơi theo AS-COA và Water (MDPI); mốc 1949 dùng liti trị lưỡng cực theo Nature. Đối chiếu lại lần cuối 10/09/2026.

Nguyên tố xuất hiện trong bài