Nguyên tố số 20 · Kim loại kiềm thổ · Rắn ở 25 °C
Chu kỳ 4 · Nhóm 2 · Khối s
Canxi: núi đá Hạ Long, bao xi măng và bộ xương đều là một chất
Đá vôi là vỏ và xương của sinh vật biển cổ đại nén lại. Việt Nam nung thứ đá ấy vào loại nhiều nhất thế giới.
6 phút đọc
Canxi là nguyên tố phổ biến thứ 5 trong vỏ Trái Đất, và nếu chỉ tính kim loại thì đứng thứ 3, sau nhôm và sắt. Gần như không ai từng nhìn thấy canxi ở dạng kim loại, nhưng ai cũng chạm vào hợp chất của canxi mỗi ngày.
Đá vôi từ đâu mà có
Đá vôi chủ yếu là canxi carbonat (canxi ghép với carbon và oxy). Phần lớn lượng đá ấy từng là vỏ và xương của vô số sinh vật biển cổ đại, từ sò, ốc, san hô cho tới phù du nhỏ xíu. Sinh vật biển rút canxi khỏi nước để tự đắp lấy nhà. Chết đi thì phần vỏ lắng xuống đáy, và hàng triệu năm chồng chất biến lớp trầm tích đó thành đá.
Nước mưa hơi chua hoà tan đá vôi rất chậm, khoét thành hang, thành khe, rồi để lại những khối đá dựng đứng. Địa hình ấy gọi là karst, và Việt Nam có ba di sản thế giới thuộc loại này. Các đảo đá ở vịnh Hạ Long mất khoảng 20 triệu năm để thành hình. Phong Nha còn già hơn, là vùng karst lâu đời nhất châu Á, với quá trình tạo đá bắt đầu chừng 400 triệu năm trước.
Vì sao canxi bám chặt vào mọi thứ
Nguyên tử canxi có hai electron ở lớp ngoài cùng và buông rất dễ, để lại ion mang hai điện tích dương. Nhờ mang hai điện tích, ion canxi bám chắc vào hai chỗ cùng lúc. Vì thế canxi vừa gắn được tinh thể khoáng vật, vừa làm được công tắc trong tế bào.
Vì bám chặt như vậy, ngoài tự nhiên không có canxi ở dạng kim loại. Năm 1808, Humphry Davy mới tách được canxi kim loại. Còn tên nguyên tố thì có trước đó rất lâu, từ chữ calx trong tiếng Latin nghĩa là vôi. Canxi carbonat kết tinh sạch thì cho ra canxit, một khoáng vật trong suốt bẻ đôi được tia sáng đi qua.
99% canxi nằm trong xương và răng
Cơ thể người cũng rút canxi ra để dựng xương và răng. Khoáng chất làm nên độ cứng của xương và răng là hydroxyapatit, một hợp chất của canxi với photpho, chiếm khoảng 70% khối lượng xương. Tính chung, 99% lượng canxi trong người nằm ở xương và răng.
Nằm yên ở đây nghĩa là không tham gia truyền tín hiệu, chứ không phải đứng im mãi. Bộ xương trông như dựng xong rồi để đó, nhưng thật ra là một công trường chạy suốt đời. Mỗi năm khoảng 10% khối lượng xương người trưởng thành bị phá đi và xây lại. Loãng xương xảy ra khi phần phá vượt phần xây, và xương mỏng dần tới lúc gãy chỉ vì một cú ngã nhẹ.
Khuyến nghị canxi mỗi ngày cho người trưởng thành là khoảng 1.000 mg, và tăng lên sau tuổi 50. Cũng có ngưỡng trần, vì nạp canxi liều cao kéo dài làm tăng nguy cơ sỏi thận và vôi hoá động mạch (mạch máu cứng lại).
1% còn lại làm công tắc cho cơ và thần kinh
Phần canxi nằm ngoài xương, chỉ chừng 1%, lại là phần lo việc truyền tín hiệu. Tế bào giữ nồng độ canxi bên trong thấp hơn bên ngoài tới khoảng 12.000 lần, và liên tục bơm canxi ra để giữ chênh lệch đó.
Giữ chênh lệch lớn như vậy tốn công, nhưng đổi lại tế bào có một công tắc cực nhạy. Chỉ cần mở một kênh trên màng là canxi ùa vào, nồng độ bên trong vọt lên tức thì, và tế bào coi cú vọt đó là mệnh lệnh.
Vài protein chuyên bắt canxi sẽ đọc mệnh lệnh ấy. Trong sợi cơ, canxi bám vào một protein và mở đường cho các sợi trượt lên nhau, thế là cơ co lại. Tim đập cũng bằng đúng cơ chế đó. Ở nhiều tế bào khác, canxi bám vào một protein khác để bật hàng loạt phản ứng.
Xi măng là đá vôi nung ở gần 1.500 độ
Muốn có xi măng thì phải nung đá vôi ở gần 1.500 °C. Ở nhiệt độ đó, canxi carbonat tách làm hai. Canxi oxit ở lại, thành vôi và clanhke (nghiền mịn clanhke ra là được xi măng), còn khí carbonic bay lên trời.
Sản xuất xi măng thải ra chừng 8–10% khí CO₂ của cả thế giới. Phần lớn lượng ấy không đến từ nhiên liệu đốt lò, mà từ chính phản ứng nung đá. Đổi sang lò chạy điện sạch cũng chỉ cắt được phần nhỏ, vì phần lớn khí thải sinh ra từ chính viên đá khi nung.
Quy mô thì rất lớn. Năm 2025 thế giới làm ra khoảng 3,8 tỉ tấn xi măng, trong đó Trung Quốc chiếm 1.700 triệu tấn và Ấn Độ 470 triệu. Ngay sau hai nước đó là Việt Nam, với chừng 100 triệu tấn, nhiều hơn cả Mỹ hay Nga.
Khí CO₂ từ lò xi măng làm biển chua
Khí carbonic thải ra thì một phần tan vào biển và làm nước chua thêm. Độ pH (thước đo độ chua của nước) ở bề mặt đại dương đã giảm khoảng 0,1 đơn vị so với thời tiền công nghiệp. Nghe nhỏ, nhưng thang pH là thang luỹ thừa, nên lượng axit trong nước thực tế tăng chừng 26%. Nước càng chua thì loài có vỏ và san hô càng khó đắp canxi carbonat.
Chúng ta nung vỏ sò của vài trăm triệu năm trước thành xi măng, và khí thoát ra khiến con sò hôm nay khó đắp vỏ hơn.
5 điều cần nhớ về canxi
- 1 Đá vôi là vỏ và xương sinh vật biển cổ đại nén lại, và là nguồn của gần như mọi canxi công nghiệp.
- 2 Ngành xi măng thải ra 8–10% khí CO₂ toàn cầu, phần lớn từ phản ứng nung đá vôi.
- 3 Việt Nam sản xuất khoảng 100 triệu tấn xi măng năm 2025, thứ ba trong các nước có số liệu riêng.
- 4 99% canxi trong người nằm ở xương và răng; chỉ 1% còn lại lo việc truyền tín hiệu.
- 5 Nước biển đang chua dần, khiến san hô và loài có vỏ khó đắp canxi carbonat hơn.
- Số hiệu nguyên tử
- 20
- Khối lượng nguyên tử
- 40,08 u
- Nhóm · Chu kỳ
- 2 · 4
- Khối
- s
- Cấu hình electron
- [Ar] 4s²
- Trạng thái ở 25 °C
- Rắn
- Độ âm điện
- 1,00
- Năng lượng ion hoá
- 590 kJ/mol
- Nóng chảy
- 841,85 °C
- Sôi
- 1.483,85 °C
- Khối lượng riêng
- 1,54 g/cm³
- Trong xương và răng
- 99% lượng canxi của cơ thể
- Tách được đơn chất
- 1808 · Humphry Davy
Khối lượng nguyên tử theo CIAAW/IUPAC 2021; các giá trị còn lại từ PubChem (NCBI/NIH). Bộ dữ liệu từng ghi canxi là nguyên tố cổ đại theo PubChem, đã sửa thành 1808 vì vôi thì có từ thời cổ còn kim loại canxi thì Davy mới tách được. Tỉ lệ hydroxyapatit trong xương, tỉ lệ 99% canxi ở xương răng, mức thay mới xương mỗi năm và chênh lệch nồng độ canxi qua màng tế bào theo các trang tổng hợp dẫn nguồn gốc, riêng tỉ lệ 99% có thêm xác nhận của Linus Pauling Institute. Khuyến nghị mỗi ngày theo Viện Y học Hoa Kỳ và theo WHO cùng FAO; hai bảng lệch nhau ở nhóm lớn tuổi nên bài không chốt con số cho nhóm đó. Phần khí thải của ngành xi măng theo Scrivener và cộng sự 2018 cùng Andrew 2019. Sản lượng xi măng theo USGS, Mineral Commodity Summaries 2026; thứ hạng của Việt Nam tính trong các nước USGS liệt kê tên riêng, vì phần thế giới còn lại được gộp chung một dòng. Mức giảm pH đại dương theo IPCC AR6. Mô tả các vùng karst Việt Nam dẫn lại văn bản UNESCO qua nguồn tổng hợp, do trang gốc của UNESCO chặn truy cập. Đối chiếu lại lần cuối 11/09/2026.